XUẤT KHẨU MÁY LÀM BÁNH CUỐN

     Lớn lên từ làng nghề chuyên làm miến khô, mỳ, bánh đa nem (xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, Hà Nội), chàng kỹ sư thấu hiểu nỗi vất vả của người nông dân làng nghề: làm việc quần quật từ sáng sớm đến khuya nhưng năng suất lao động chẳng đáng là bao, một cân mỳ gạo bán ra giá chưa bằng một bát phở ở Hà Nội. Anh quyết định bỏ công việc với mức lương hấp dẫn ở một công ty thương mại để cùng bạn bè tạo lập công ty riêng, tìm đầu ra cho những chiếc máy chế biến nông sản.

Phó giám đốc kiêm… khuân vác

Đỗ Đức Thành (SN 1983) tốt nghiệp khoa Hóa (Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội), nhưng không đi theo chuyên ngành mình đã học. Sau hai năm làm nhân viên kinh doanh tại một công ty thương mại, mặc dù công việc khá thuận lợi, anh quyết định “ra riêng” để thực hiện mơ ước của mình. “Năm 2011, mình cùng 2 người bạn thành lập công ty riêng. Tiếng là phó giám đốc nhưng việc gì mình cũng làm hết: Tìm kiếm khách hàng, khuân vác, lắp máy…” – Đỗ Đức Thành chia sẻ.



Anh Đỗ Đức Thành trong một chuyến đi công tác

Anh Thành trong một chuyến đi công tác

     Công ty của Thành chuyên sản xuất và cung cấp các sản phẩm cơ khí chính xác, trong đó có một mảng là máy chế biến nông sản. Anh nhớ lại: “Cách đây hơn 20 năm, tôi đã thấy ông cậu  mình là một thợ cơ khí đã tự học, tự mày mò làm một số máy sản xuất bánh cuốn, bún, phở,… Những sản phẩm ấy góp phần tích cực cho làng nghề, những hộ gia đình quanh xã. Một số người giầu lên nhờ những cái máy đó. Vì lúc trước làm thủ công thì năng suất rất thấp, đến lúc có máy móc thì sản lượng làm ra tăng lên gấp nhiều lần. Tôi nghĩ tại sao mình không kinh doanh những sản phẩm đó?”

 

     Người cậu của Đỗ Đức Thành là ông Nguyễn Chí Dương, một “nhà sáng chế nông dân” đã bỏ công rất nhiều năm tìm hiểu về các loại máy chế biến nông sản. Ông Dương vui vẻ cho biết: “Ban đầu Thành nói với tôi về việc sẽ bán những cái máy làm bánh cuốn, miến, đậu phụ, bánh phở… mà tôi sản xuất được, tôi cảm thấy rất vui. Tôi đã học ở những người khác, rút kinh nghiệm rất nhiều lần để tạo ra một cái máy như vậy, nay lại được các cháu có trình độ về công nghệ cùng nghiên cứu, cải tiến thì tin chắc sẽ làm ra được sản phẩm tốt”.

 

     Từ niềm tin đó, ông Dương trở thành một trong những người đầu tiên hợp tác cùng công ty Cổ phần Yamaguchi Việt Nam. Những chiếc máy được làm ra, được đưa lên mạng Internet, hình ảnh được in vào tờ rơi, thư giới thiệu… tuy nhiên “nhà sáng chế” tình nguyện chưa lấy một đồng tiền công nào.

 

     Chiếc máy làm bánh cuốn đầu tiên được bán cho một khách hàng ở tận Huế, đơn hàng đó anh Thành trực tiếp đi lắp máy. Chuyến công tác xa lần đầu tiên, anh cùng với hai nhân viên kỹ thuật tự tay khuân từng bộ phận của chiếc máy nặng hơn 6 tạ lên ô tô. Đến nơi, họ cùng khuân từng viên gạch, từng xẻng xi măng để xây bệ máy, rồi thức đêm để lắp đặt, hồi hộp chờ đợi mẻ bánh cuốn đầu tiên ra lò. “Chuyến đi đầu tiên, công ty còn nghèo, bọn mình quyết định đi ô tô cho rẻ. Vào đến nơi cũng phải cố gắng làm đêm làm hôm để xong sớm và chi tiêu cũng hết sức tiết kiệm, nếu không thì tiền lãi từ việc bán máy chưa chắc đủ bù tiền công tác phí”.

 

     Hiện nay, khi số lượng máy chế biến nông sản bán được trong nước đã lên tới hàng trăm, kinh nghiệm của lần đi lắp máy đầu tiên vẫn là tài sản quý giá đối với Đức Thành.  Anh cho rằng người làm kinh doanh phải đi thật nhiều, tiếp cận với khách hàng thật nhiều, chính khách hàng là người dậy cho mình những bài học quý giá.


Công nhân kiểm tra máy làm bánh cuốn trước khi xuất xưởng

Học hỏi từ người nông dân

     Anh Thành cho biết những phản hồi từ khách hàng đã giúp anh cải tiến chiếc máy ngày càng ưu việt hơn. “Người dân biết rõ hơn mình nhiều về chất gạo ở địa phương họ, còn mình thì phải học qua nhiều lần đi lắp máy. Ví dụ máy làm bánh cuốn của công ty mình bán rất tốt ở miền Trung vì hợp với chất gạo ở đây, nhưng thời kỳ đầu vào miền Nam thì rất khó khăn, bánh thường bị ướt và dính quá, không bóc được. Sau đó mình phát hiện ra người miền Nam thường hay cho bột năng vào bột làm bánh nên phải có một số điều chỉnh để bột nhuyễn hơn, bánh ra không quá mỏng để sau khi hấp sẽ dễ bóc”.

 

     Những bài học như gạo để khoảng bao lâu sau khi thu hoạch làm bánh cuốn, bún, phở là tốt nhất, loại vải nào làm “phông” để khi bánh ra lò dễ bóc, thời gian hấp bao lâu để sợ bún chín đều, đẹp … đều được Thành và những bạn nhân viên kỹ thuật ghi lại chi tiết, trở thành cơ sở cho những cải tiến công nghệ sau này.

 

     “Khách hàng thường là những người làm nghề hàng chục năm, họ có khẩu vị tinh lắm, biết sợi bún làm ra như thế nào là ngon. Mình thì chỉ biết về nguyên lý cơ khí thôi, vì thế phải học rất nhiều. Thời gian đầu chuyển giao công nghệ thì mình hướng dẫn họ, nhưng từ 2 – 4 tuần thì họ sẽ sử dụng giỏi hơn cả mình. Bún, bánh sản xuất công nghiệp nhưng không khác gì hàng làm bằng tay” – Thành cho biết.

 

     Từ thị trường trong nước, có những khách hàng là Việt kiều ở Mỹ, Úc đã đặt hàng máy chế biến nông sản của công ty. Ngày Tết, Việt kiều ở các nước thường nhớ những món ăn đặc sản Việt Nam: một bát miến gà nấu măng, một đĩa bánh đa nem, một bát bún nóng hổi… Những món quà quê gửi sang nước ngoài thường là miến khô, bánh đa nem (bánh tráng). Nắm bắt được nhu cầu này, công ty đã hướng đến đầu tư các loại máy chế biến nông sản mang tính đặc sản. “Với các loại máy làm bánh nướng, bánh mì thì hiện tại công ty mình vẫn có thể sản xuất được, nhưng không đấu được với máy móc của Trung Quốc về giá thành. Vì thế mình hướng đến các loại máy chế biến các món ăn đặc sản. Khi những món ăn truyền thống của người Việt như bún, phở, miến, bánh đa nem càng phổ biến trên thế giới thì Việt kiều và cả người nước ngoài cũng sẽ đầu tư vào các loại máy chế biến đó để phục vụ khách hàng” – anh Thành phân tích.

 

     Từ mục tiêu trước mắt giúp người dân làng nghề đỡ vất vả, những chiếc máy làm bánh cuốn, bánh đa nem, bún, miến “made in Việt Nam” đã vươn qua biên giới, bán sang Mỹ, Úc, Trung Quốc và nhận được sự phản ứng tích cực từ khách hàng.

 

     Khó khăn nhất khi đưa máy “made in Viet Nam” xuất ngoại là gì?  Anh Thành cho biết, đó chính là niềm tin của khách hàng. “Họ nghi ngờ sau khi chuyển tiền mình có chuyển máy cho họ không, thậm chí đến lắp đặt máy thì sau đó máy có chạy được không… ”. Có một kỷ niệm đáng nhớ của Thành và những người bạn ở công ty. Một khách hàng ở Lâm Đồng đặt mua máy làm bánh cuốn. Nhóm đi lắp máy phải làm việc ở trang trại của khách hàng 2 – 3 ngày mới xong. Trang trại ở giữa rừng, phải đi xe ôm cả tiếng đồng hồ mới ra được khu dân cư. Ban đêm,  họ nhốt cả nhóm vào 1 căn phòng, khóa lại vì sợ… bỏ trốn.

 

     “Khách hàng thì có người nọ người kia thôi, có những người như thế nhưng cũng có những người như một khách hàng tại Mỹ, họ chuyển tiền cho mình trước rồi mình mới chuyển máy. Nếu như mình lừa người ta không giao máy, họ không thể bay một chuyến từ Mỹ về để kiện ông Thành vì 1 – 2 ngàn đô. Sự nghi ngại của khách hàng giống như một bức tường mà mỗi công ty phải thuyết phục để khách hàng sẽ tự dỡ bỏ giúp” – anh Thành tâm sự.

 

Theo báo Xa lộ Pháp luật, số ra ngày 7/2/2015

Bài viết liên quan